Chất xúc tác cho phản ứng polyurethanes

Xúc tác amine (Amin)
A min bậc 3 đã được sử dụng từ lâu làm xúc tác cho sản xuất polyurethane. Chúng đóng vai trò cân bằng và điểu khiển phản ứng gel hóa và phản ứng thổi (tạo bọt lớn) do đó quá trình tạo mút được điều chỉnh thích hợp. Kiểu cũng như nồng độ xúc tác amin có thể được lựa chọn để phù hợp cho quá trình mong muốn như là phản ứng nở, thời gian phản ứng (thí dụ, thời gian tạo kem (cream) thời gian nở và thời gian gel hóa) và ngay cả cho lớp da bên ngoài của mút. Lượng xúc tác amin có thể điều chỉnh để cải thiện khả năng tạo khí và để giảm thiểu biến thiên tỷ trọng.
Các xúc tác amine thương mại thường chứa nhiều amin khác nhau, hoạt tính của chúng tất nhiên là không giống nhau. Một số có thể xúc tác cho phản ứng nở, số khác cho phản ứng gel hóa. Bảng dưới đây giới thiệu một số xúc tác amine thông thường và ứng dụng.



Xúc tác thiếc
Các dẫn xuất hữu cơ của thiếc (Tin) được biết có tính xúc tác mạnh đối với phản ứng gel hóa (phản ứng làm khối polyurethane quánh lại). Khi sử dụng kết hợp với xúc tác amin, phản ứng thổi và phản ứng gel hóa có thể cân bằng nhanh chóng hơn.
Stannous Octoate (tên hợp chất muối thiếc, tên theo IUPAC: tin(II) 2 – ethylhexanoate) là xúc tác thiếc thông dụng nhất hay dùng trong sản xuất mút khối mềm.
Mức xúc tác stannous octoate thấp, mút sẽ nứt do gel hóa không đủ và phản ứng thổi tương đối dư. Tăng nồng độ xúc tác stannous octoate vừa phải sẽ cho mút tế bào mở và bớt căng. Tăng xúc tác nhiều thêm nữa sẽ giảm độ đàn hồi và tạo mút khít hơn. Tăng nhiều lược xúc tác thiếc, làm cho quá trình gel hóa quá nhanh làm cho các khoang tế bào mút khó vỡ ra được. Bảng kết luận về nồng độ xúc tác ảnh hưởng lên mút ở dưới đây, dựa vào đó mà bạn có thể xác định công thức pha trộn phù hợp theo kinh nghiệm.

Ảnh hưởng của thành phần hóa học lên lượng xúc tác cần dùng


Trong đổ khuôn lạnh/mút đàn hồi cao, có thể dùng dibutyltin dilaurate (DBTDL) lượng rất nhỏ ( thường < 0,1 pphp -parts per hundred parts of polyol) để cải thiện độ bền của mút.

Comments